Tháng sáu là tháng của Cha với Father’s Day, cô Thúy Nga gửi đến các bạn một tùy bút về những kỷ niệm của Cha và con gái.
Thán chúc cá bạn ngày Lễ Của Cha thật đầm ấm, thật vui và đầy hạnh phúc.
Admin
CÔ CON GÁI RƯỢU
Đôi khi, những biệt danh mà cha mẹ dùng để gọi con có ảnh hưởng rất nhiều đến cảm nghĩ và đời sống của người con được đặt cho cái tên đó. Trong những “ dấu ấn” của ngày thơ ấu mang biệt danh, có những kỷ niệm gắn liền vào đời…vui có và buồn cũng có, nó được nâng niu trân trọng hay ghét bỏ tùy theo cảm nghĩ của người nhận.
Riêng tôi, cái tên “ con gái rượu “ của bố tôi gọi tôi từ khi còn bé nhỏ, lúc ba cha con quanh quẩn bên nhau ngày mới di cư vào miền Nam đã in sâu vào tiềm thức của tôi, từ
những ngày xa xưa ấy cho đến tận bây giờ. Tôi yêu thương và trân trọng nó như một kỷ niệm trân quý mà bố đã tặng cho tôi.
Bố tôi là một nhà thơ, thơ của bố, theo tôi, rất hay và thấm sâu vào lòng người đọc, nhất là những lời thơ diễn tả về nỗi buồn xa xứ… về cái …”thủa ấy hương hoa ngát ngập trời”…mà khi còn sống ở quê hương, tôi chỉ “cảm” nhưng chưa “thấu” được cho đến khi bước vào vết xe cũ của bố và lưu lạc xứ người… còn trẻ hơn bố ngày đó và quê hương thì xa tắp ngàn trùng…
Tôi lớn lên trong khung cảnh thiên nhiên… từ những cánh đồng mênh mông đầy hoa bằng lăng mầu tím nhạt, những ruộng rẫy trồng bắp và đậu, những cánh rừng cao su ngút ngàn của tỉnh Long Khánh cho đến cảnh núi non trùng điệp của miền cao nguyên còn đầy hoang dã…nên tâm hồn cũng đong đầy nhiều mộng mơ lãng mạn, nhưng lại bị ảnh hưởng bởi những sự khó khăn vất vả của những gia đình người di dân bắt đầu bằng tay trắng.
Lớp học thực sự đúng nghĩa với trường lớp là lớp nhất tôi theo học tại trường tiểu học Nguyễn Công Trứ ở Ban Mê Thuột. Những vốn liếng học hành mà tôi có là do bố tôi dạy từ khi tôi còn bé và tại gian nhà ngang của Thầy Bốn ở xóm đạo nhỏ. Bố dặn tôi phải học hành chăm chỉ vì bố đi làm công chức, không có nhiều thì giờ để dạy như trước nữa. Bố cũng ít khi gọi tôi là con gái rượu như khi tôi còn bé, có lẽ là muốn giữ sự công bằng khi hai chị của tôi vừa đi học vừa đi làm. Tôi đã đủ lớn để thấy những chật vật và khó khăn của gia đình nên học rất chăm chỉ, thi đỗ bằng tiểu học với điểm cao và đậu thứ hai trong cuộc thi tuyển vào lớp đệ thất trường trung học công lập duy nhất của tỉnh lỵ , được bố khen và hứa cho học thêm khi tôi tốt nghiệp trung học. Mãi đến khi tôi từ Nha Trang về với tin vui đã đỗ tú tài 2 ban toán, bố tươi cười bảo “ bố biết con gái rượu của bố học giỏi, bố mẹ sẽ thu xếp cho con vào Sài Gòn học đại học”.
Tôi học ở Sài Gòn chưa được hai năm thì nhà của gia đình tôi ở Ban mê Thuột bị cháy vào biến cố Tết Mậu Thân 68, và rồi cả gia đình di chuyến về Sài Gòn. Bố tôi đã về hưu và những năm tháng ở Sài Gòn, tôi gần gũi và hay nói chuyện với bồ tôi nhiều, đọc thơ của bố nhiều hơn nên thấu hiểu được nỗi lòng luyến nhớ làng quê cũ của bố. Và rồi bắt chước bố … ti toe làm thơ con cóc và lấy tên của bố và biệt danh con gái rượu làm… bút hiệu, nhưng dấu không cho bố biết vì sợ bố cười…định là thấy thơ kha khá một chút rồi khoe với bố, nhưng thơ con cóc vẫn là …con cóc, nên…dấu luôn. Đến khi bố mất, bố cũng không hề biết bút hiệu thân thương của cô con gái rượu của bố khi tập làm thơ !
Khi mẹ tôi mất bất ngờ vì bệnh cao huyết áp thì tôi càng thân với bố tôi hơn, bố buồn vì mẹ mất nên thơ của bố càng nói về nỗi nhớ làng quê và những kỷ niệm thời niên thiếu, phiêu lưu đây đó, kết hôn với người con gái của một gia đình khoa bảng ở Hải Dương, gần với quê bố ở Hưng Yên . Tôi chăm sóc bố nhiều hơn vì từ ngày mẹ mất, bệnh suyễn của bố càng nặng hơn vì tuổi già và sự thương nhớ người bạn đời hơn bốn mươi năm, cùng trải qua những gian truân đã ra đi.
Vào những ngày đau thương tang tóc cuối tháng tư năm 75, bố bắt chúng tôi hứa là phải tìm mọi cách để ra đi, nhưng bố ở lại vì sức khỏe quá suy yếu. Bố hiểu rõ công sản tàn ác như thế nào nên phải bỏ ông bà ở lại để di cư vào Nam, các con phải nghe lời.
Có lẽ số tôi còn được ở bên bố thêm vài năm nữa, nên chỉ có gia đình chị lớn tôi là di tản được qua Mỹ. Tuy không được may mắn, nhưng tôi được sống gần bố, được chăm sóc cho bố. Khi bố tôi mất, chúng tôi xin được một phần đất ở một ngôi chùa nhỏ rất xa thành phố để làm phần mộ. Nghĩa trang của ngôi chùa nhỏ có rặng phi lao bao quanh, những lúc đi thăm, ngồi bên mộ bố, nghe những ngọn lá thông vi vu theo gió buồn khôn tả. Khi đó, mộ của mẹ tôi ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi đã phải phá bỏ vì chính quyền muốn dùng khu đất để làm công viên. Cải táng cho mẹ xong, chúng tôi gửi tro cốt của mẹ trong chùa Vĩnh Nghiêm. Bố mẹ không được ở gần nhau, nghĩ thật buồn.
Năm năm sau khi bố tôi mất, chúng tôi vượt biển thành công đến Galang, Indonesia và định cư tại Hoa Kỳ. Và hai mươi năm sau khi mẹ tôi mất, em trai tôi, người cuối cùng của gia đình qua Mỹ theo diện đoàn tụ, đã mang theo di cốt của bố mẹ tôi vì không còn ai ở quê hương nữa. Chúng tôi xin được chỗ trong chùa Vạn Phước để gửi tro cốt của bố mẹ. Chùa gần nhà tôi, bố mẹ được nghe kinh kệ và chúng tôi thường xuyên thăm viếng…cảm thấy được gần gũi và ấm lòng.
******
Như lời hứa với hai con khi chúng còn nhỏ, và cũng chưa một lần thăm viếng từ khi rời Sài Gòn hơn ba mươi năm trước, chúng tôi đưa hai con về thăm quê hương của ba mẹ, và cũng muốn nhận dịp này, khi nhóm của chúng tôi do cô em họ tổ chức khi đi thăm Hà Nội, tôi muốn ghé thăm Làng Nôm, quê của bố tôi, thuộc tỉnh Hải Hưng, chỉ cách Hà Nội khoảng hơn 20km, để tìm lại họ hàng người thân của bố mà họ đã ghé thăm bố tôi khoảng một năm sau biến cố tháng 4/75. Nhưng vì không thuận đường và cần cho hai con về vì chúng phải đi làm và đi học, không còn đủ thời gian nên dành phải chờ dịp may lần tới.
Dường như có một sự xếp đặt nào đó mà khoảng chỉ hai tháng sau, chúng tôi đưa ông anh chồng về Sài Gòn, và lần này, tôi nhờ cô em họ chuẩn bị cho chuyến đi Hà Nội và dành thời gian để tôi ghé làng Nôm.
Buổi sáng sớm, người tài xế đưa chúng tôi đi thăm chùa Nôm, một ngôi chùa nổi tiếng của Hưng Yên và dặn chúng tôi cúng chùa và hỏi thăm về người thân.
Sau khi vái trước đỉnh hương lớn ngoài sân, chúng tôi vào cúng Phật ở trong chùa. Vì không phải ngày rằm hay lễ hội nên chùa rất vắng. Tôi thơ thẩn dạo quanh sân chùa, lòng bồi hồi nhớ lại những lời bố kể về lễ hội làng Nôm ngày xưa thì thấy một cô gái còn trẻ đứng gần tòa thờ có tượng Phật Bà Quan Âm, tay cầm một chiếc máy ảnh khá lớn. Cô hỏi chúng tôi có muốn chụp hình không vì cảnh chùa rất đẹp. Lời cô lễ phép, lịch sự và vui vẻ… Sau khi chụp hình, tôi hỏi cô về làng Nôm vì muốn vào làng tìm người thân. Cô vui vẻ trả lời
-Con tên là Thi, từ chùa đến làng Nôm đi lối sau chùa rất ngắn, chỉ khoảng 200m, nếu các bác muốn, con xin phép dẫn đường và tìm người quen hỏi giúp.
Chúng tôi đi theo cô trên con đường mòn khá rộng… Lòng thật mừng vi có người dẫn đường và mong tìm được các cô chú như lời khấn ở chùa. Đi được khoảng 10 phút thì đến một cầu đá bắc ngang qua dòng sông, Thi nói
-Đây là Cầu Nôm hay còn gọi là Cầu Đá vì cầu làm toàn bằng những phiến đá lớn được mạch vào nhau, cầu này đã có lâu lắm rồi, mình đến làng Nôm rồi các bác ạ.
Lòng tôi bồi hồi khi bước chân lên cầu Nôm, mơ tưởng ra những bước chân thơ dại của bố ngày nào tung tăng chạy nhẩy trên cầu này… bố ơi, con gái rượu của bố về thăm làng cũ của bố đây… bố phù hộ cho con tìm được các cô chú họ hàng ngày trước rồi con đưa bố mẹ về quê, bố nhé…
Và dường như sự cầu xin của tôi được ứng nguyện, người đàn bà đứng tuổi đầu tiên khi vào làng Nôm mà cô Thi hỏi thăm giúp chúng tôi lại là người thông gia của gia đình chú Lợi, em cùng cha khác mẹ của bố tôi. Và khi bước vào sân trước nhà chú Lợi, thấy quanh sân có những đống đồng vụn, tôi có cảm tưởng là đúng nhà họ hàng vì nhớ lời bố nói, nhà ông nội có nghề làm đồng và câu ca dao
Đồng nát thì về cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha.
Sau khi bà Hồng, người thông gia giới thiệu chúng tôi với người đàn bà chủ nhà, bà Mai, thì người đàn bà đứng tuổi cầm lấy tay tôi và khóc
-Sau khi bà nội và bác Thiện vào Nam thăm bố con, rồi lần sau vào thì không còn gặp ai nữa. Nhà đã bán và họ không biết địa chỉ của chủ nhà cũ . Cũng biết là các con không ở lại thành phố, nhưng chờ mãi, và không ngờ đến bây giờ các con mới tìm được họ hàng nhà mình.
Tôi cũng rất cảm động, kể lại cho các cô chú về những chuyện anh chị em chúng tôi đã trải qua, và sau hơn hai mươi năm mới tụ họp đông đủ tại Hoa Kỳ. Sau khi dùng cơm trưa, các cô chú dẫn chúng tôi qua nhà tổ của đại gia đình. Tôi khấn vái cảm ơn tổ tiên đã phù hộ tôi tìm được họ hàng và nhất là cảm ơn bố tôi đã cho cô con gái rượu có được vinh dự này cũng như xin phù hộ cho chúng tôi mang được tro cốt của bố mẹ về với làng quê cũ.
Thế rồi như một giấc mơ, như chú Thiện tôi nói, chỉ 8 tháng sau là cả làng Nôm tụ họp đón người con lưu lạc trở về. Tro cốt của bố mẹ chúng tôi được nhà Sư chùa Nôm làm lễ chôn cất, tro cốt đã được để vào trong hai quan tài nhỏ, hạ huyệt trước sự hiện diện của dân làng Nôm, tất cả họ hàng thuộc đại gia đình chúng tôi ở trong làng, ở Hà Nội, ở Lạng Sơn, cùng với anh chị em chúng tôi, tiễn đưa người con viễn xứ về yên nghỉ mãi mãi trong lòng đất thân thương quê cha đất tổ…
*****
Thấm thoát thế mà đã hơn mười năm, từ ngày chúng tôi đưa bố mẹ về yên nghỉ ở làng quê của bố, lòng tôi thanh thản rất nhiều, không phải lo nghĩ về việc tro cốt của bố mẹ gửi ở chùa phải dời đi, vì tại xứ Hoa Kỳ, nhiều nơi chùa không được phép giữ tro cốt trong chùa. Bây giờ bố mẹ ở quê, quanh năm khói hương ấm cúng, có con cháu họ hàng luôn thăm viếng.
Và một điều kỳ diệu dường như đã nảy sinh trong tôi từ sau ngày đưa bố mẹ về quê và hình ảnh hai ngôi mộ nằm song song bên nhau trong nghĩa trang làng Nôm, mang lại sự bình yên trong lòng…Tôi bắt đầu viết … viết văn nhiều hơn là làm thơ… chắc có lẽ bố biết là thơ của cô con gái rượu… hay quá nên không muốn đọc? Tôi vẫn giữ bút hiệu cũ, bút hiệu mà tôi đã kết nối bằng tên của bố và ý nghĩa của con gái rượu. – Ý Nhi – Tôi viết và đôi khi làm thơ về những chuyện đã xảy ra cũng như những kỷ niệm yêu dấu của đời mình… như một gạch nối còn giữ được giữa hai bố con tôi…và tôi, mãi mãi vẫn là cô con gái rượu của bố.
Ý Nhi Nguyễn thị Dung