Blog của cựu học sinh trường Nữ Trung Học Qui Nhơn

Trang NhàThể LoạiĐoản VănThành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận...

Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên

Con là ai ? Từ đâu tới ? Và vì sao lại muốn nương nhờ cửa phật? Hãy chậm rãi kể cho ta nghe.
Dạ thưa:
Năm 1287 con được sinh ra vào một chiều cuối hạ, mưa vần vũ hơn mười ngày qua, đã làm nước Sông Hồng dâng cao, ( Lại thêm một trận chiến bất phân thắng bại của Sơn Tinh và Thủy Tinh). trong bọc điều nhung gấm. Phụ Hoàng là một vị vua anh minh TRẦN NHÂN TÔNG, Mẫu Hậu là hoàng hậu Trần Thị Sinh,Anh trai con là thái tử sau nối nghiệp vua cha lên làm vua có tên TRẦN ANH TÔNG
Vẫn tưởng sinh ra trong gia đình hoàng tộc,con sẽ được hưởng hạnh phúc sung sướng hết đời, nhưng không phải vậy.

Tuổi thơ con là những ngày êm ấm hạnh phúc, vui chơi, học chữ, học thêu thùa, được vua cha và hoàng hậu cưng chiều. Năm con 12 tuổi, do lời hứa gả của vua cha ( lúc này đã nhường ngôi cho vua anh ) nên sứ thần của vương quốc Champa mang lễ vật sang cầu hôn. Vì con còn nhỏ và vì nhiều lí do khác nữa nên quan lại trong triều phản đối, chỉ có Quan nội chính là Trần Khắc Chung và một người nữa đồng ý gả , nên vua anh đã không gả con. Thời gian thấm thoát trôi…. năm năm sau vị vua nước Chiêm vẫn chưa từ bỏ ý định. Con lúc này đã là một cô gái trưởng thành tài sắc vẹn toàn. Con vẫn sống trong sự sợ hãi về một ngày kia mình sẽ phải rời bỏ nơi này…


Rồi đến một hôm nước Chiêm lại cho sứ giả tới, lần này kèm theo lời cầu hôn là một cuộc đổi chác làm vua anh và tất cả quan lại trong triều thay đổi quyết định. Vua Chiêm đã mang hai Châu là Châu ô và Châu Rí ra làm Sính lễ để cưới con. Vậy là lễ vu qui của con nhanh chóng được định đoạt và tổ chức.

Vào một ngày đẹp trời năm 1306
Vua Cha và Hoàng Hậu căn dặn con:
– Con là phụ nữ, nay theo chồng nhớ phải giữ đạo hạnhTam,Tòng Tứ Đức, Phu xướng Phụ tùy.
– Dạ Thưa vâng
Con mang theo lời cha mẹ dặn từ biệt cha mẹ cùng anh em hoàng tộc bước lên thuyền hoa cùng đoàn tùy tùng do thầy dạy con cũng là quan trong triều đưa con đi về một đất nước hoàn toàn xa lạ.
Đoàn thuyền đưa dâu xuôi dòng Hồng Hà ra biển lớn và theo hướng nam dương buồm sau nhiều ngày, lênh đênh trên biển. Đoàn thuyền đã cập bến thành Thị Nại. Đây là kinh đô cũ của vương quốcChampa. Thành Thị Nại được xây trên một dải đất nằm giữa hai nhánh của sông Côn là sông Cầu Đun và sông Gò Tháp, thành xây hình chữ nhật chạy dài theo hướng đông tây. Mặt thành phía bắc chạy dọc theo sông Gò Tháp lấy sông làm hào chắn tự nhiên.Tường thành phía nam chạy dọc theo nhánh sông Cầu Đun. Tường thành phía đông xây dọc theo một hào nước được đào thông giữa hai nhánh sông tự nhiên . Nhìn từ biển lên con thấy thấp thoáng những đền đài, lầu các nguy nga cao vút trong thành.
Nhìn tòa thành con có chút yên tâm hơn với ý nhĩ đây là kinh đô cũ thì chắc kinh đô mới sẽ không phải là những ngôi nhà nhỏ trong rừng như những lời đồn trong dân gian con nghe được khi còn ở nhà

Đón con ở bến thuyền là đoàn voi, ngựa xe cờ hoa rợp trời, Thấp thoáng trong đoàn người đó một người bước lên phía trước và tiến về phía thuyền của con đó là một người cao lớn, nước da sạm nắng,mái tóc gợn sóng bồng bềnh, mũi cao, mắt sáng thoáng nét đa tình, dáng vẻ hào hoa,phong nhã nhưng không kém phần uy nghi của một đấng quân vương. Người đội một chiếc mũ hình trụ trên đỉnh có gắn một viên đá lớn tỏa ra ánh sáng nhiều màu sắc rực rỡ. Mặc một bộ quần áo lụa trắng , đường viền cổ áo, tay áo, lai áo,và hai hàng khuy lớn bằng vàng, bên ngoài khoác một chiếc áo long bào bằng vàng. Chân mang đôi hia màu đen có thêu hình con chim GARUDA màu đỏ* Theo lời của quan dẫn đoàn thì ra đó là Chế Mân, ông vua của vương quốc Champa và cũng là vị hôn phu của con.

Con bước lên bờ với sự hộ tống của cung nữ mà không hiểu sao lúc đưa tay ra để chàng đỡ lên bờ con đã bị vấp và may là cung nữ đỡ kịp chứ không con đã bị té . Con trộm nghĩ không biết đây có phải là điềm báo gở cho mình hay không Con được đưa lên ngồi trên kiệu voi cùng với chàng theo sau là đoàn người với cơ man nào là ngựa xe cờ hoa, hai bên đường người dân ra vẫy chào,

Khoảng một canh giờ sau đoàn người đưa rước về tới Thành Đồ Bàn. Một tòa thành nguy nga tráng lệ nằm ẩn hiện giữa những cánh rừng xanh ngút ngàn, thành được xây bao quanh bằng những bức tường đá chỉ để 4 cổng ra vào có người canh gác. Đoàn người tiến vào thành từ cửa thành phía đông, vào trong thành con thấy những tòa tháp cao vút lộng lẫy, những đền đài nguy nga tráng lệ nằm rải rác trong thành, nhưng nổi bật trên nền trời là tòa cung điện nơi vua và hoàng tộc ở. Nó không thua mấy so với kinh thành Thăng Long.

Thành Đồ Bàn do tổ tiên của Phu quân con là Chiêm Vương Ngô Nhật Hoan xây dựng vào năm 999 với kiến trúc độc đáo và kiên cố. Đền đài, lầu các đều lớn hơn thành Thị Nại (kinh đô cổ ) đường đi trong thành lát bằng đá hoa cương ,những ngôi tháp trong thành thường đứng một mình chứ không thành cụm Khi Con đến đây thì những ngôi tháp này đã khoảng Hai trăm tuổi rồi. Mỗi góc tháp đều trang trí tượng hình rắn bằng đá trắng, và đặc biệt rải rác trong thành có rất nhiều tượng voi, và tượng các loại quái vật bằng đá trắng mà khi ở quê nhà con chưa từng thấy bao giờ

Cổng thành phía tây bắc có mười ngôi tháp xây trên một gò đất yểm hậu. Cổng thành phía tây có dẫy đồi kim sơn án ngữ, Phía đông có núi long cốt làm tiền án, phía nam có Nhạn tháp…
Chủ nhân của vương quốc Champa và tòa thành này chính là Phu quân của con CHẾ MÂN. Một vị quân vương anh hùng, nhân hậu, chính người đã dẫn đầu đoàn quân nước Chiêm đánh bại đại quân Nguyên Mông do Hốt Tất Liệt dẫn đầu, sau khi thua trận quân Nguyên Mông để lại cơ man nào là xác chết trên thành Thị Nại, người cho quân đi nhặt từng xác chết thiêu lấy tro cốt cho vào hũ,, dán tên , rồi cấp thuyền và lương thực cho những tù binh sống sót trở về quê. Không những anh hùng và nhân hậu mà người còn là một vị quân vương đạo nghĩa minh chứng rõ nhất cho điều này là việc người tha chết cho một viên tướng của đạo quân Champa đã câu kết với quân Nguyên Mông làm phản, nhưng người chỉ thu hết quân và đuổi về quê làm ruộng*

Con về sống trong thành Đồ Bàn với ngôi hoàng hậu mang tên: PARAMECVARI. Cũng sống trong nhung lụa , trong yêu thương với phu quân, đêm đêm hưởng tiệc dạ yến, rồi cung nữ múa hát giúp vui thời gian này chưa kéo dài được bao lâu. Khoảng gần một năm sau, sau một cơn bạo bệnh phu quân con qua đời…
Đời người phụ nữ như hạt mưa sa trong nhờ đục chịu. Con góa bụa vào lúc chưa tới hai mươi….
– Thôi đủ rồi con đứng dậy đi
Khi tôi vừa chớm đứng dậy thì dẫm vào vạt áo và trượt ngã………….
……………………………………………..

Trời ơi ! thì ra nãy giờ tôi sống trong một giấc mơ. Người tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi ngồi dậy và phải mất một lúc tôi mới thoát khỏi ý nghĩ mình là Huyền Trân Công Chúa….
Hôm qua tôi đi thăm và tìm gặp lại những người xưa cũ …và đặc biệt hơn nữa tôi muốn tìm về nơi có những dấu ấn không thể phai mờ trong suốt cuộc đời tôi cho đến bây giờ đó là Thành Đồ Bàn và tu viện Nguyên Thiều nơi có cụm tháp Bánh ít. Vào thắp nhang cho vị tổ sư Nguyên Thiều và lạy phật xong, nơi tôi tìm đến đầu tiên là dưới chân Thích Ca Phật Đài. Dưới bóng mát của bức tượng tỏa ra, tôi đứng thẫn thờ cảnh cũ còn đây gần như nguyên vẹn, nơi này bạn bè nô đùa nghịch ngợm và cũng chính nơi đây tôi đã nhận được lời tỏ tình đầu tiên của một người con trai….
Nắng chiều xuống như chậm hơn khi bước chân của cảm xúc đầy vơi đưa tôi tới chân mấy ngọn tháp Champa thuộc làng Tri Thiện xã Phước Quang, Tuy Phước Bình Định có tên gọi tháp Bánh ít ( giống hình chiếc bánh ít ). Đây là quần thể tháp Champa còn nguyên vẹn nhất trên đất Bình Định vậy mà:

Ai tưởng đến tháp Chàm kia trơ trọi
Tháng ngày luôn rộng cửa đón ma Hời
Ai nhìn đến làn rêu thương lở lói
Trên thịt hồng nứt nẻ gạch Chàm tươi
(Chế Lan Viên )

Bốn ngọn tháp còn lại ngự trên đồi kế bên tu viện Nguyên Thiều này đều có của chính quay về hướng đông và có nhiều cửa giả với lối kiến trúc độc đáo của người Champa tháp chính cao 22m sừng sững tọa lạc trên đỉnh đồi xung quanh còn ba ngọn tháp nhỏ hơn với lối kiến trúc đa dạng và phong phú của người Champa. hai ngọn tháp có hình dạng chiếc bánh ít ngọt trần và một ngọn có hình bánh ít mặn đã lột vỏ. Trải qua hơn một ngàn năm bốn ngọn tháp vẫn còn gần như nguyên vẹn trước nghiệt ngã của thời gian, đã chứng kiến dưới chân mình biết bao dâu bể của cuộc đời, cũng như những lời tỏ tình, lời thề ước của những đôi trai gái yêu nhau,
Thành Đồ Bàn giờ đây không còn được như Tháp Bánh ít, chỉ còn là phế tích đánh dấu rằng nơi đây đã có sự hiện diện của một tòa thành là kinh đô của một vương quốc. Nhìn vài pho tượng Voi đá, sư tử đá mấy bậc tam cấp,và một ngôi tháp Cánh Tiên trơ trọi Tôi thấy cảnh trong thơ Chế Lan Viên rằng:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than…

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều tan hỗn độn
Lừng hương đưa rộn rã tiếng từ qui...
(Chế Lan Viên )

Tôi nghĩ tới bài hát Hận Đồ Bàn Của Xuân Tiên mà chạnh lòng :

Cả dĩ vãng là chuỗi ngày vô tận
Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành
Cũng đương chôn lặng lẽ những ngày xanh …
(Chế Lan Viên )

Thành Đồ Bàn giờ đây

“Vẻ rực rỡ đã tàn theo năm tháng
Bao năm sau còn dội tiếng kêu thương…
(Chế Lan Viên )

Tôi về đây cô đơn giữa chốn cũ, người xưa tìm không gặp, trường cũ chẳng ai hay. Tôi thơ thẩn bên những di tích, nào chùa Nhạn tháp phía nam thành, Chùa Thập tháp phía tây bắc thành cổ. Ngôi chùa này được xây trên nền của mười ngôi tháp Chăm và bằng gạch cũ của chính mười ngôi tháp đó. Đứng trước bậc tam cấp chùa Thập Tháp, lòng tôi dâng tràn biết bao cảm xúc,với những hồi ức của thuở còn mười tám đôi mươi là giáo sinh đi du ngoạn cùng các bạn..Vàl riêng tôi thì có sở thích. Ngoài những giờ lên lớp tôi lang thang trong tay là tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên, để tìm hiểu về những di tích, phế tích những truyền thuyết gắn với những di tích trong dân gian. Ray rứt thắc mắc tôi nhiều nhất là chuyện tình của công chúa Huyền Trân và ông vua Chế Mân khi nghe câu:

Tiếc thay cây Quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo
(Ca dao )

Hoặc :
Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm
(Ca dao )

Huyền Trân ngọc ngà kiều diễm thì không có gì phải nói nhưng Chế Mân một ông vua thời ấy làm chủ một vương quốc Champa hùng mạnh và rộng lớn.Chủ nhân của tòa thành mà phía nam thì:

Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo quanh thành
( Điêu tàn – Chế Lan Viên)

Phía tây thành thì:

Nơi ngựa hý chuông rền vang trong gió ( Chế Lan Viên )

Còn vào trong thành thì:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
(Chế Lan Viên )

Vậy thì cớ sao ông lại bị ví với “thằng Mán, thằng Mường ) hay chỉ là ” Nước đục” nhỉ .Tôi cứ hỏi mình rồi tự mình đi tìm câu trả lời, và rồi cũng phải chấp nhận rằng:

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ
Tan dần trong yên lặng của đồng quê
(Chế Lan Viên)

Cứ thế tôi đi hết ngày này cho tới ngày khác, bất cứ nắng mưa hễ có giờ rảnh là tôi đi, và cho đến một ngày. Tôi bắt buộc phải rời nơi này. Bao nhiêu năm qua cứ khi nào có dịp là tôi lại đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc của mình chưa có lời giải đáp. Nhưng trở về nơi này thì đây là lần đầu tiên sau khi tôi bị bắt buộc phải rời xa

Tôi yêu quê tôi, yêu dải đất Nam,Ngãi,Bình Phú, yêu những truyền thuyết dân gian, yêu những câu dân ca và yêu cả những ca khúc, câu thơ gắn liền với lịch sử vùng đất ấy. Yêu lắm những người dân hiền hòa cần cù, chân thật và mến khách. Tôi phải ra đi, đã trở lạ, và sẽ còn trở lại nhiều lần nữa để hiểu thêm, yêu thêm về mảnh đất và con người nơi đây

Huỳnh Xuân Sơn

* nguồn tư liệu sử dụng cho bài viết có tham khảo từ internet

9 BÌNH LUẬN

    • RE: RE: Cơm trưa
      Em cũng nhận ra thầy Ân, có dạy lớp chúng em. Giờ mới biết chuyện đau buồn của gia đình thầy. 🙁

  1. RE: Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
    … gả công chúa cho quan, tướng … (không phải là vua hay hoàng tử …) thì kêu là “hạ giá” (Vua lo công chúa “ế”) …

  2. RE: Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
    Tên Huyền Trân Công Chúa làm cho người ta chạnh lòng, bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa. Một vị Công Chúa trải qua thời gian trên 500 năm vẫn còn lắng đọng trong lòng người dân Việt. Ngày nay dân chúng tại Tân Đô Sài Gòn Gia Định khi đi ngang qua công lộ mang tên Huyền Trân Công Chúa, dưới hàng me rắc lá, bóng mát rợp đường, nghe giọng ve sầu khúc nhạc du dương, được trổi lên triền miên bất tận, ca ngợi công đức của bậc thượng lưu, vương giả đã quên mình để chu toàn chữ hiếu và đổi lấy đất đai, để mở mang bờ cõi nước nhà, đem lại lợi ích vĩnh cửu cho dân tộc.
    Thời gian trôi qua,lịch sử diễn tiến, hai châu Ô, Lý món sính lễ của cuộc hôn nhân giữa hai nước Viêt Chiêm, đã thành địa
    danh Thuận Hóa tỉnh Thừa Thiên, Cố Đô Huế, núm ruột của quê hương gấm vóc Việt Nam. Là người dân Việt mỗi lần đi ngang qua Huế có sông Hương núi Ngự ngàn năm văn vật, ghé lại Sài Gòn đặt chân trên đường dài hàng me mát mẻ mang tên Huyền Trân Công Chúa, tự nhiên thấy lòng ngậm ngùi tưởng nhớ bậc Ân Nhân Tiên Tổ, ghi mấy vần thơ lưu niệm suy tôn:
    Đường dài mang chữ Huyền Trân
    Tên nàng Công Chúa đổi thân ngọc ngà
    Mở mang bờ cõi sơn hà
    Sử xanh công đức vang ca muôn đời
    Trang Uyên Đỗ xuân Quang)
    Cám ơn Xuân Sơn , bài viết thật xúc động, mang mác buồn cho một thời của phận má hồng lại gánh vác giang sơn.

  3. RE: Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
    Xuân Sơn mến, câu chuyện về Huyền Trân Công Chúa từ xưa đến nay được sử sách nói đến nhiều và cũng là một đề tài trong văn học, thi ca & nghệ thuật. Năm trước về Huế, chị có đến thăm đền thờ Huyền Trân nằm trên ngọn đồi cao núi Ngũ Phong, cách thành phố Huế chừng 7 km. Đền thờ lớn và lộng lẫy, điêu khắc đẹp. Phong cảnh đồi núi nơi đây thơ mộng nhưng có lẽ vì đến vào một chiều mưa trời âm u, buồn, thêm bị ám ảnh bởi câu chuyện năm xưa càng thấy cảnh đền đìu hiu tưởng như linh hồn Công chúa còn đâu đó và nỗi buồn chưa nguôi ngoai. Ngày ấy, cuộc hôn nhân là do Vua cha Trần Nhân Tông trong chuyến đi thăm Chiêm Thành đã lỡ hứa hôn, trong khi Chế Mân đã có hoàng hậu chính thức. Khi Vua cha đã lên núi Yên Tử tu hành thì Vua Anh Tông và triều thần nhà Trần không đồng ý gả công chúa cho Vua Chiêm. Tướng Trần Khắc Chung có thuận ý có lẽ là do phải giữ lời hứa của Thái Thượng Hoàng Nhân Tông. Cho đến khi Chế Mân dâng 2 châu Ô, Lý thì Vua Trần mới thuận ý việc hôn lễ. Trong sử cũng có nói đến việc khi Chế Mân băng hà, theo tục lệ Chiêm Thành, hoàng hậu phải theo lên giàn hỏa thiêu – nhưng là hoàng hậu chính thức, không phải là Huyền Trân. Nhưng viện cớ vì lý do này, Trần Khắc Chung được lệnh Vua Anh Tông qua Chiêm Thành viếng tang lễ và tìm cách đưa công chúa trở về. Đó là một việc bất tín, làm cho Chiêm Thành xem như một quốc nhục tức giận phản ứng, các đời Vua Chiêm sau đó suốt 50 năm đã dùng vũ lực yêu cầu nước Đại Việt trao trả cho vương quốc này 2 châu Ô, Lý và gây chiến tranh triền miên, chết chóc và cuối cùng là vương quốc sụp đổ.
    Bài “Nước non ngàn dặm” theo điệu Nam Bình tương truyền là do công chúa soạn ra lúc ra đi:
    “Nước non ngàn dặm ra đi…
    Mối tình chi!
    Mượn màu son phấn
    Đền nợ Ô, Ly.
    Xót thay vì,
    Đương độ xuân thì.
    Số lao đao hay là nợ duyên gì?… “
    Nói lên nỗi niềm cay đắng của thân gái dặm trường thực hiện sứ mệnh lịch sử. Hạnh phúc riêng tư không có. Người đời sau nhớ ơn và thương tiếc cho công chúa Huyền Trân cũng vì lẽ đó.
    Còn lý do vì sao trong ca dao Việt Nam lại nói đến “Cây quế” và “Mán, Mường”, có lẽ do thời ấy người Việt ta xem Chiêm Thành như một nước nhỏ, dân tộc kém hơn? Theo các bậc tiên nho ngày xưa, con gái kết hôn với người không cùng giống nòi còn bị chê trách, huống chi đây là cành vàng lá ngọc!
    Lại cũng theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn, Bắc Ninh. Riêng ngôi đền thờ Công chúa ở Huế cũng để nhắc đến cho muôn đời sau hiểu rằng bờ cõi có mở mang đó là do sự hy sinh của một người con gái…

  4. Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
    Xuân Sơn xin cảm ơn chị Diệp Hà, carolyn do
    Và chị Diệu Tâm, Đã quan tâm và góp ý với bài viết của XS.
    Cuộc đời của Huyền Trân Công Chúa thì quá rộng với hiểu biết của XS trong khuôn khổ bài viết này, XS chỉ muốn mượn vai Huyền Trân Công Chúa để ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ của Thành Đồ Bàn trước khi nó trở thành Phế tích.Mà điều đó thì cho đến bây giờ vẫn chưa tìm được sách sử nào ghi chép lại, mọi tài liệu liên quan chỉ mang tính khảo cứu.Nên XS đành đưa phần này vào phần MỘNG….mong các anh chị hiểu hơn…
    XS mong sẽ có dịp viết về Huyền Trân Công Chúa nhiều hơn

    • RE: Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
      [quote name=”Xuân Sơn”]….mong các anh chị hiểu hơn…[/quote]

      … muốn người khác hiểu đúng ý mình thì phải nói rõ ngay từ đầu như cách viết essay của học trò Mỹ, mình muốn bàn luận điều gì (controlling ideas) là phải nói rõ trong phần nhập đề để tránh lan man làm người đọc “lạc hướng” … còn chỉ muốn “trải lòng” như anh HML với bài thơ “Em đi làm sao anh sống” mặc dù VST khi phổ nhạc giữ đúng “nỗi lòng của Anh” mà khi HN hát theo “nỗi lòng của Em” thì GS VPL cũng viết lời bàn theo “nỗi lòng của Em” …

  5. RE: Thành Đồ Bàn Mộng và Thực qua cảm nhận từ tập thơ ĐIÊU TÀN của Chế Lan Viên
    Một bài viết lạ về một chủ đề lich sử rất quen tuy nhiên mình đã đọc một mạch từ đầu đên cuối có lẽ vì cái nhập đề tuy vô cùng lung khởi về Công Chuá Huyền Trân nhưng không thể nói là không lôi cuốn. Cảm nhận về nhân vật lich sử của tác giả rất thơ, rất mềm mại và vì thế dĩ nhiên có tính cách giả sử hơn, bố cục của bài viết tựa như bố cục của một một bài thơ (Xuân Sơn là nhà thơ mà) có cái mênh mang, lãng đãng như gió như mây, thành Đồ Bàn bỗng như ảo mộng khi chen lẫn trong cung điệu điêu tàn của thơ Chế Lan Viên. Có lẽ vì vậy mà bài viết lôi cuốn người đọc hơn là một bài viết đơn thuần, đầy đủ về cuộc đời công chúa Huyền Trân, vua Chế Mân và thành Đồ Bàn vì chắc sẽ như một bài học lịch sử mà ai trong chúng ta cũng đã từng biết qua sử sách rồi.

    Mình cũng từng bâng khuâng với “thằng Mán thằng Mường” trong ca dao, có thể người xưa cho việc kết hôn với người không cũng giống nòi dù là Vua một nước như Chế Mân là không môn đăng hộ đối? Nhưng cũng có thể là một ông vua mà đem một phần đất đai của đất nước đánh đổi lấy một người đàn bà cho dù là là cành vàng lá ngọc, tài sắc vẹn toàn như công chùa Huyền Trân thì không phải là một minh quân? ( Vua …đa tình quá 🙂 )

    Cảm ơn Xuân Sơn đã cho đọc một bài viết lạ và lôi cuốn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Bài Cùng tác Giả