Giếng Xưa

Những ngày thơ ấu, tôi sống ở Diêu Trì - một thị trấn nhỏ bên dòng Hà Thanh. Trong ký ức ấu thơ, quê tôi là ngôi nhà từ đường trang nghiêm có những tấm liễn treo hai bên vách bằng gỗ đen mun. Bàn thờ tổ tiên lúc nào cũng hương khói, có hai con hạc bằng đồng đen đứng lặng thinh bên hình ảnh của ông bà phủ sau những mảnh nhiễu điều thẳng thớm. Không khí nhà từ đường yên lặng lắm nên ít khi tôi dám vào đây một mình.
Gần gũi hơn, quê nhà gắn liền với Bà Cố tôi - tóc bạc trắng, khuôn mặt hiền từ, giọng nói nhẹ như ru với thật nhiều chuyện cổ tích, thỉnh thoảng Bà tôi chen vào vài câu chuyện ma, cọp thật sống động - cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận - hồi đó mỗi lần nghe đến hai địa danh này tôi hồi tưởng chuyện Bà kể mà sợ xanh người - Quê tôi cũng là khu vườn có cái bình phong cũ kỹ phủ đầy rêu bên dưới là cái hồ nhỏ trồng sen nơi tôi thường vớt nước hồ đổ lên những là sen rồi đùa với những hạt nước tròn trĩnh chay lăn tăn trên lá, là lũy tre xanh mát bao quanh và cái giếng xây bằng đá ong ở cuối vườn.

Những ngày hạ nóng, tôi thường xin Ngoại cho tham gia phơi lúa. Sáng sớm khi mặt trời vừa lên, lúa được mang từ những bồ lúa trong nhà đổ đầy ra sân và được ban thành những mảng hình chữ nhật ngăn nắp, gọn ghẽ như những bàn cờ, những hạt lúa óng vàng nằm yên bình chờ nắng lên để đến chiều khi nắng tắt lại được hốt vào nằm lại trong lẫm lúa. Tham gia vài ba chuyến chuyển lúa vào lẫm bằng chiếc gùi nhỏ trên vai là mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vui nhất là sau đó chạy ra cái giếng mát rượi cuối vườn, thòng cái gầu làm bằng gáo dừa nhỏ xíu vừa với sức tôi, xách lên một dòng nước mát ruợi, ngụm nước ngọt ngào trên đầu lưỡi, tan dần trong cổ hoà cùng niềm vui tuổi thơ đầy ắp trong lòng.

Vào mùa đông khu vườn nhà tôi ủ rũ trong những cơn mưa dầm. Gió rét mướt lùa qua những tàu lá chuối đẫm ướt, và con nít thì chỉ đi loanh quanh trong nhà, nhìn trời mưa mà mong ngày ráo tạnh. Có năm nước lụt dâng cao, tôi nhớ mình ngồi trên tấm phản kê thật cao trong nhà, bên cạnh là một lò than hồng - có phủ một lớp tro bên trên - để sưởi ấm. Thuở nhỏ tôi bi dị ứng, cứ đến mùa đông ướt dầm lạnh lẽo là tôi nổi "mề đai" đầy mình, đó là lý do vào mùa lụt cái lò than cứ kè kè bên tôi. Nhưng mà lo lắng chuyện dị ứng, khó thở làm chi, ngược lại tôi ngồi bó gối nhìn nước lụt lo lắng cho cái giếng ngập nước đục trong vườn, lo cho mấy con gà con mới nở không có hột tấm để ăn, gà mẹ không kịp ủ ấm sẽ bị chết cóng, lo cho cái hồ sen với những lá sen xanh mượt chắc đã ngập trong bùn...

Sau khi nước rút là những ngày chờ đợi đến thắt trái tim con, chờ đến khi khu vườn khô ráo để được bay nhảy bày lại trò chơi, rồi kiên nhẫn chờ cái giếng nước hiền hoà trong trẻo lại.

Khi lên năm, ba mẹ tôi đưa tôi xuống Quy Nhơn đi học, tôi xa quê, xa khu vườn lắm trò chơi có cái giếng mát thân yêu. Năm tháng ở Quy Nhơn tôi thường nôn nao mong chờ những dịp cúng giỗ Ông Bà để được theo về Diêu Trì. Mười cây số giữa Quy Nhơn và Diêu Trì lúc ấy đối với tôi sao mà vời vợi. Ngồi trên xe lam kiên nhẫn đợi đến ngã ba Phú Tài là lòng vỡ oà, cuống quít niềm vui. Việc đầu tiên là cầm bó nhang theo Ngoại đi dọc theo những con đường đất nhỏ đến thăm mộ ông bà, rồi háo hức tìm lai bạn bè chơi thuở trước để cùng vùng vẫy, nô đùa trong dòng Hà Thanh mát rượi và không quên thăm cái giếng trong vắt ở cuối vườn. Thả vội chiếc gầu rộn rã khuấy động để được nghe như tiếng nước xôn xao cười đón tôi về, rồi nghiêng đầu vào lòng giếng hét lên lời chào để âm vang xao động hình bóng của chính mình sóng sánh mừng vui trong mắt giếng êm đềm sâu thẳm.

Một ngày mùa xuân, theo chiếc xe lam đầu ngày về thăm quê, bàng hoàng nhìn khu vườn thân yêu úa vàng, cháy xém. Những cây ăn trái trong vườn đứng tiêu đìều xác xơ. Cả rặng tre chung quanh vườn thường ngày tươi xanh mạnh mẽ đến chừng ấy, gìờ đây cũng bơ phờ, trụi lá. Mặt đất hừng hực nóng trong mùi xăng dầu nồng nặc. Một ống dẫn dầu đặt dọc theo quốc lộ 19 chạy ngang trước nhà bị ai đó tháo van lấy dầu rồi không khóa kín lại được như cũ, dầu rỉ rả chảy ngày này sang ngày khác, âm thầm thấm vào lòng đất hủy hoại những mầm cây, mạch sống trên đường đi. Khu vườn thân yêu giờ hoang tàn, cỏ cây đứng lặng héo úa, vắng hẳn tiếng côn trùng thường ngày rả rích! Dầu luân lưu trong lòng đất theo mạch nước ngầm đổ vào giếng, dòng nước ngọt ngào trong vắt giờ đây ố vàng, trong mắt giếng dầu đóng váng đục ngầu lặng lờ đến tang thương ! Tôi đau xót nhìn mảnh vườn thân yêu bi hủy diệt mà không biết phải làm gì. Không biết bao nhiêu lần thả gầu vào lòng giếng vớt hoài vớt mãi những cáu dầu loang trên mặt giếng để lại thấy một vết dầu khác lập tức tràn đến như một dòng cuồng lưu âm thầm, chết chóc!

Suốt một thời gian dài tôi thẫn thờ thương tiếc cái giếng thân yêu và cây cỏ chung quanh. May sao qua vài mùa mưa nắng, mảnh đất hiền hoà trở lại, khu vườn lại trổ lá xanh tươi và giếng nước cuối vườn lại ngọt ngào, trong thăm thẳm.

Năm tháng trôi qua, biết bao lần tôi theo Ngoại ngồi xe lam về Diêu Trì thăm giếng mang theo niềm vui háo hức gặp lại, giếng với tôi cơ hồ gắn bó như hai người bạn thiết - hai người bạn trong yên lặng - Giếng nhìn mái tóc bum bê của tôi dài dần, dài dần. Giếng lắng nghe tiếng hét chào trẻ con ngày xưa trở thành tiếng thầm thì thiếu nữ, giếng hiền hoà nghe tôi chuyện vãn, giếng kiên nhẫn, thinh lặng sẻ chia những vui buồn của tuổi mới lớn. Cơ hồ giếng như êm đềm trìu mến nhìn tôi mỗi khi gặp lại và trong mắt giếng tôi nhìn thấy bầu trời trong xanh vời vời, khi đêm về là những vì sao sáng ngời, tráng lệ thoang thoảng hương đêm lẫn trong hương nước ngọt ngào bát ngát.

Rồi vụt xa ngút ngàn, tôi lưu lạc. Dòng đời ngược xuôi, đã thật lâu rồi tôi không về thăm quê, thăm giếng nước thân yêu cuối vườn. Cô bé con ngày xưa giờ tóc đã phai mầu, mảnh vườn cũ đã đổi thay, giếng xưa đã không còn nhưng trong tận cùng thương nhớ, sao tôi vẫn ray rức nghĩ rằng ở nơi quê nhà xa xăm đó giếng vẫn mõi mòn đợi mong

Phạm Ngọc Dao